- Tính tối cao của Hiến pháp
Điều 119 Hiến pháp năm 2013 xác định một nguyên tắc không thể hiểu theo nhiều nghĩa: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý”. Khoản 2 của điều này còn quy định trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp thuộc về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân, đồng thời xác định cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.[1]
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cũng duy trì nguyên tắc thứ bậc trong áp dụng pháp luật. Khi các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn phải được ưu tiên áp dụng.[2]
Về lý thuyết, cấu trúc của trật tự pháp luật là rõ ràng. Hiến pháp xác lập những nguyên tắc nền tảng của tổ chức quyền lực, quyền con người, quyền công dân và giới hạn của quyền lực nhà nước; luật của Quốc hội cụ thể hóa những vấn đề thuộc quyền lập pháp; còn nghị định của Chính phủ thực hiện chức năng quy định chi tiết, tổ chức thi hành luật hoặc điều chỉnh những vấn đề thuộc phạm vi quyền hành pháp mà Hiến pháp và luật cho phép. Nghị định không phải là một cấp lập pháp thứ hai đứng song song với luật, cũng không phải nguồn quyền lực độc lập cho phép Chính phủ xác định lại phạm vi một quyền đã được Hiến pháp bảo vệ.
Tuy nhiên, một trật tự pháp luật không được đánh giá chỉ bằng việc văn bản nào được xếp trên văn bản nào trong giáo trình hoặc trong danh mục văn bản quy phạm pháp luật. Tính tối cao của Hiến pháp chỉ có nội dung thực chất khi một quy phạm ở cấp thấp hơn, nếu vượt khỏi giới hạn hiến định, có thể bị nhận diện, đình chỉ, bãi bỏ hoặc ngăn không cho tiếp tục tạo ra hậu quả pháp lý bằng một cơ chế đủ hữu hiệu.
Nếu Hiến pháp quy định một quyền nhưng nghị định có thể thu hẹp đáng kể phạm vi thực hiện quyền đó; nếu sự thu hẹp ấy tiếp tục được sử dụng làm căn cứ xử phạt trong nhiều năm trước khi được xem xét; và nếu người trực tiếp bị tác động không có một phương thức hữu hiệu để yêu cầu kiểm tra ngay tính hợp hiến của quy phạm, thì khoảng cách giữa hiệu lực pháp lý cao nhất và hiệu lực thực tế mạnh nhất đã xuất hiện.
Luận đề trung tâm cần được xác lập từ đây: Hiến pháp chỉ thực sự giữ vị trí tối cao khi văn bản dưới Hiến pháp bị buộc phải vận hành trong giới hạn của Hiến pháp; khi nghị định vượt khỏi giới hạn ấy, hậu quả pháp lý đúng phải hướng tới việc loại bỏ quy phạm vượt thẩm quyền, chứ không phải để phạm vi quyền hiến định trên thực tế bị thu hẹp cho vừa với nội dung của nghị định.
Khái niệm “nghị định không còn trong trật tự” trong bài viết này được sử dụng theo nghĩa đó. Văn bản vẫn có thể tồn tại về mặt hình thức, vẫn có số hiệu, ngày ban hành và thời điểm hiệu lực, nhưng nếu nội dung của nó thực hiện một chức năng mà trật tự hiến định không dành cho quyền lập quy, thì vấn đề đã vượt khỏi một sai sót kỹ thuật trong xây dựng văn bản. Khi ấy, sự sai lệch nằm trong chính quan hệ giữa các tầng quyền lực pháp lý.
- Điều 14 Hiến pháp: giới hạn đối với quyền lập quy
Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp quy định quyền con người, quyền công dân “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật” trong trường hợp cần thiết vì quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe của cộng đồng. Đây không chỉ là một quy định về quyền con người, mà đồng thời là một quy phạm phân bổ thẩm quyền.
Cụm từ “theo quy định của luật” có ý nghĩa khác với “theo quy định của pháp luật”. Nếu nhà lập hiến sử dụng khái niệm “pháp luật”, phạm vi có thể bao gồm luật, nghị định, thông tư và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. Việc sử dụng riêng khái niệm “luật” đặt những lựa chọn căn bản về hạn chế quyền ở tầng lập pháp, tức ở Quốc hội, thay vì trao cho hành pháp một thẩm quyền chung để tự xác định thêm các giới hạn quyền theo nhu cầu quản lý.
Cách hiểu này không phải là sự suy diễn quá mức từ một từ ngữ trong Hiến pháp. Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tiếp tục phân biệt riêng những vấn đề về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, cũng như việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, và loại chúng khỏi một số cơ chế xử lý đặc biệt được thiết kế nhằm tạo sự linh hoạt cho hệ thống pháp luật.[3] Điều đó cho thấy ngay cả khi nhu cầu xử lý vướng mắc thực tiễn được đặt ra rất cấp thiết, phạm vi hạn chế quyền vẫn được coi là một khu vực mà quyền lực dưới luật không được tùy tiện thay thế quyết định lập pháp.
Từ khoản 2 Điều 14 có thể rút ra ít nhất hai yêu cầu đối với một nghị định liên quan đến quyền con người. Trước hết, phải xác định luật nào đã đặt ra hoặc ủy quyền đủ rõ cho sự hạn chế đang được nghị định cụ thể hóa. Tiếp theo, ngay cả khi có căn cứ luật, sự hạn chế vẫn phải đáp ứng yêu cầu về tính cần thiết và mục đích mà Hiến pháp cho phép.
Vì vậy, việc một nghị định được ban hành đúng trình tự, có đầy đủ căn cứ ở phần mở đầu và thuộc lĩnh vực quản lý của Chính phủ chưa giải quyết được câu hỏi về tính hợp hiến của nội dung. Thẩm quyền quản lý một lĩnh vực không đồng nhất với thẩm quyền hạn chế mọi quyền có liên quan đến lĩnh vực đó. Nếu luật chỉ trao quyền quản lý mạng xã hội, điều đó không tự động có nghĩa Chính phủ có thể quy định bất kỳ hình thức biểu đạt nào trên mạng xã hội là hành vi bị cấm. Nếu luật giao quản lý báo chí, cũng không từ đó suy ra hành pháp có thể dành riêng những phương thức phổ biến của việc thu thập và trình bày thông tin cho các chủ thể có tư cách báo chí. Trong mỗi trường hợp, phải quay trở lại câu hỏi căn bản về thẩm quyền lập pháp: Quốc hội đã quyết định giới hạn này ở đâu?
Trong lý luận luật công, đây chính là vấn đề ultra vires – quyền lực được sử dụng vượt khỏi phạm vi mà pháp luật trao. Một quy phạm ultra vires không trở nên hợp pháp chỉ vì cơ quan ban hành có thẩm quyền chung đối với lĩnh vực quản lý; phải có thẩm quyền đối với chính nội dung mà cơ quan đã quy định.
- Từ “quy định chi tiết” đến “đẻ thêm quy phạm”: ranh giới giữa lập pháp và lập quy
Không thể xây dựng một hệ thống pháp luật hiện đại mà không có quyền lập quy của hành pháp. Quốc hội không thể trực tiếp xác định mọi tiêu chuẩn kỹ thuật, thành phần hồ sơ, quy trình tác nghiệp hoặc phương thức tổ chức thực hiện trong hàng nghìn lĩnh vực quản lý. Vì vậy, nghị định là một công cụ cần thiết của quản trị nhà nước. Nhưng sự cần thiết của quyền lập quy không xóa bỏ ranh giới giữa lập pháp và hành pháp.
Nếu luật quy định một ngành nghề phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và giao Chính phủ xác định thông số kỹ thuật, nghị định đang cụ thể hóa một nghĩa vụ đã được luật thiết lập. Nếu luật quy định một thủ tục cấp phép và giao Chính phủ quy định thành phần hồ sơ, thời hạn hoặc phương thức nộp, nghị định đang tổ chức thi hành một chế định đã có. Trong các trường hợp đó, quyết định căn bản về quyền, nghĩa vụ và giới hạn đã được cơ quan lập pháp đưa ra.
Bản chất hoàn toàn khác khi luật không cấm một hành vi nhưng nghị định lại tạo ra điều cấm; luật không xác lập một nghĩa vụ nhưng nghị định lại tạo ra nghĩa vụ; hoặc luật không hạn chế một quyền theo một phương diện nhất định nhưng nghị định tự xác định thêm phạm vi mà công dân không được thực hiện quyền.
Khi ấy, nghị định không còn trả lời câu hỏi “luật được thực hiện như thế nào” mà bắt đầu trả lời câu hỏi “công dân được làm gì và không được làm gì” trong một khu vực mà Hiến pháp dành cho luật. Đó không phải sự khác biệt về kỹ thuật trình bày mà là sự thay đổi chức năng của quyền lực.
Nguy cơ này càng rõ trong những lĩnh vực mà toàn bộ chuỗi quy phạm được hình thành chủ yếu bên trong hành pháp. Cơ quan quản lý chuyên ngành nhận diện một vấn đề; bộ quản lý xây dựng dự thảo; Chính phủ ban hành nghị định; sau đó các cơ quan hành chính thuộc chính lĩnh vực đó giải thích, kiểm tra và xử lý vi phạm. Trong khuôn khổ thẩm quyền hợp pháp, đây là hoạt động bình thường. Nhưng nếu điểm xuất phát đã là một giới hạn quyền thuộc khu vực phải do luật quyết định, hành pháp trên thực tế có thể tham gia gần như toàn bộ quá trình từ xác định vấn đề, tạo lập điều cấm cho tới cưỡng chế điều cấm ấy.
Chính vì vậy, một trong những câu hỏi quan trọng nhất trong thẩm định nghị định không phải là quy định có giúp quản lý thuận lợi hơn hay không, mà là nội dung đó đang cụ thể hóa một lựa chọn đã có trong luật hay chính nó đang tạo ra lựa chọn lập pháp mới. Nếu là trường hợp thứ hai, văn bản đã rời khỏi vị trí mà trật tự pháp luật dành cho nghị định.
- “Phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí”: một trường hợp cần được kiểm tra ở tầng hiến định
Nghị định số 147/2024/NĐ-CP quy định đối với dịch vụ mạng xã hội rằng không được đăng tải hoặc cho người sử dụng sản xuất nội dung dưới hình thức “phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí” và đăng tải lên mạng xã hội. Nội dung này xuất hiện trong các quy định về trách nhiệm của tổ chức cung cấp mạng xã hội trong nước và các chủ thể có liên quan.[4]
Đến năm 2026, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định chế tài trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, trong đó có các quy định xử phạt đối với trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội.[5]
Trường hợp này cần được phân tích thận trọng, bởi không phải mọi giới hạn đối với nội dung trên mạng xã hội đều đặt ra cùng một vấn đề hiến pháp. Nhà nước có cơ sở để điều chỉnh hành vi giả danh nhà báo, cung cấp thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, xâm phạm đời tư, tiết lộ bí mật được pháp luật bảo vệ, xâm phạm quyền tác giả hoặc thực hiện những hành vi có đối tượng gây hại cụ thể. Các hành vi này phải được đánh giá theo chính quy phạm bảo vệ lợi ích mà chúng xâm phạm.
Nhưng việc kiểm soát hình thức phóng sự, điều tra hoặc phỏng vấn đặt ra một vấn đề khác, bởi những khái niệm đó đồng thời mô tả các phương pháp phổ biến trong quá trình tìm kiếm, kiểm chứng và trình bày thông tin.
Một người dân ghi nhận tình trạng ô nhiễm tại khu dân cư, thu thập tài liệu, đối chiếu hồ sơ, phỏng vấn người bị ảnh hưởng và chuyên gia rồi biên tập thành một video có cấu trúc điều tra chưa vì thế mà xâm phạm một lợi ích được pháp luật bảo vệ. Một công dân đặt câu hỏi với người có liên quan rồi đăng nội dung cuộc trao đổi lên mạng cũng không mặc nhiên thực hiện một hành vi gây hại chỉ vì phương thức thể hiện giống một cuộc phỏng vấn.
Điều 25 Hiến pháp ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin và các quyền liên quan. Khi một văn bản dưới luật giới hạn không phải hành vi gây hại mà chính phương thức thu thập hoặc thể hiện thông tin, câu hỏi về Điều 14 phải được đặt ra một cách trực tiếp.
Ở đây phải phân biệt quyền quản lý tư cách báo chí chuyên nghiệp với quyền sử dụng những phương pháp truyền đạt thông tin vốn không tự thân tạo thành hoạt động báo chí chuyên nghiệp. Nhà nước có thể quy định chủ thể nào là cơ quan báo chí, ai có tư cách nhà báo, điều kiện cấp phép hoạt động báo chí, trách nhiệm nghề nghiệp và những đặc quyền hoặc nghĩa vụ đi kèm. Nhưng từ đó không đương nhiên phát sinh một độc quyền đối với việc đặt câu hỏi, ghi nhận hiện trường, xác minh thông tin, phỏng vấn người khác hoặc xây dựng nội dung theo cấu trúc điều tra.
Nếu mục tiêu của nhà quản lý là chống giả danh báo chí thì quy phạm nên hướng tới hành vi giả danh; nếu mục tiêu là chống thông tin sai thì phải xử lý thông tin sai; nếu mục tiêu là bảo vệ đời tư thì phải xử lý việc xâm phạm đời tư. Việc cấm một phương thức biểu đạt rộng hơn những hành vi gây hại cụ thể chỉ có thể được chấp nhận khi có căn cứ lập pháp tương ứng và vượt qua được phép kiểm tra về tính cần thiết.
Một vấn đề khác là tính xác định của quy phạm. Đâu là ranh giới pháp lý giữa một “phóng sự” với một video tài liệu; giữa “điều tra” với hoạt động công dân thu thập, kiểm tra và tổng hợp thông tin; giữa “phỏng vấn báo chí” với một podcast, một cuộc hỏi – đáp hoặc một video ghi lại ý kiến của người liên quan? Nếu hành vi có thể bị xử phạt nhưng đường biên của hành vi phụ thuộc quá lớn vào đánh giá chủ quan của cơ quan áp dụng, phạm vi tự do thực tế sẽ bị thu hẹp rộng hơn chính phạm vi mà chế tài trực tiếp tác động.
Người dân khi ấy không chỉ chịu ảnh hưởng khi bị xử phạt mà có thể tự hạn chế hoạt động của mình từ trước để tránh rủi ro pháp lý. Trong nghiên cứu quyền tự do biểu đạt, hiện tượng này thường được gọi là chilling effect: tác động làm nguội hoặc làm co hẹp việc thực hiện quyền do sự bất định và nguy cơ chế tài.
Tất cả những lập luận trên không phải để nhanh chóng kết luận một cách giản đơn rằng mọi nội dung nêu trên của Nghị định 147 đương nhiên vô hiệu. Kết luận pháp lý cuối cùng đòi hỏi đối chiếu đầy đủ với luật được viện dẫn làm căn cứ, phạm vi ủy quyền và toàn bộ hệ thống quy phạm liên quan. Nhưng chính vì nó trực tiếp chạm tới hình thức biểu đạt nên đây là một trường hợp có nghi vấn hiến định đủ nghiêm trọng để phải được kiểm tra ở tầng thẩm quyền và Điều 14, thay vì chỉ được giải thích bằng nhu cầu quản lý mạng xã hội.
- Vấn đề thật sự của Hiến pháp Việt Nam
Nếu chỉ đọc Hiến pháp, hệ thống đã có những công cụ tương đối rõ để xử lý xung đột. Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng và một số chủ thể khác khi văn bản trái với Hiến pháp, luật hoặc nghị quyết của Quốc hội; Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ hoặc Thủ tướng trái với Hiến pháp, luật hoặc nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội xem xét việc bãi bỏ.
Ngoài cơ chế ở cấp Quốc hội, pháp luật hiện hành còn có hệ thống kiểm tra, rà soát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Nghị định số 79/2025/NĐ-CP quy định nguyên tắc kiểm tra văn bản phải bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch và kết hợp giữa tự kiểm tra với kiểm tra theo thẩm quyền; văn bản có dấu hiệu trái pháp luật có thể được kiểm tra trên cơ sở kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân.[6] Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung một số nội dung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP.[7]
Như vậy, nói hệ thống hoàn toàn không có cơ chế xử lý văn bản dưới luật trái pháp luật là không chính xác. Vấn đề nằm ở đặc điểm và hiệu quả của những cơ chế đó.
Phần lớn việc kiểm tra văn bản vẫn vận hành trong hoặc giữa các cơ quan nhà nước, trong khi người trực tiếp bị hạn chế quyền chưa có một thủ tục tài phán hiến pháp trực tiếp theo đó họ có thể yêu cầu một cơ quan xét xử độc lập tuyên một quy phạm dưới luật không được áp dụng với hiệu lực chung chỉ vì nó trái Hiến pháp. Khoảng cách này rất quan trọng.
Một nghị định có thể đang có hiệu lực hình thức và tiếp tục được cơ quan hành chính viện dẫn trong khi kiến nghị về tính hợp hiến hoặc hợp pháp chưa được giải quyết. Người dân có thể phản ánh, kiến nghị kiểm tra văn bản, khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hành chính cụ thể được ban hành trên cơ sở nghị định đó, nhưng quá trình từ việc phát hiện một quy phạm có dấu hiệu trái Hiến pháp đến việc quy phạm ấy bị loại khỏi hệ thống không phải là một cơ chế tài phán trực tiếp và tức thời.
Vì vậy, nhận định rằng Hiến pháp “vô dụng” sẽ quá rộng và không chính xác về pháp lý. Hiến pháp vẫn là căn cứ cao nhất để đánh giá văn bản và phân bổ quyền lực. Nhưng có cơ sở để đặt vấn đề rằng cơ chế chuyển hóa ưu thế chuẩn tắc của Hiến pháp thành ưu thế thực tế trong một tranh chấp cụ thể hiện chưa tương xứng với vị trí mà Điều 119 dành cho Hiến pháp.
Một bản Hiến pháp có thể quy định rất đầy đủ về quyền, nhưng giá trị thực tiễn của các quyền ấy phụ thuộc vào khả năng người có quyền buộc Nhà nước tuân thủ Hiến pháp khi quyền bị xâm phạm. Nếu con đường này quá gián tiếp, quá chậm hoặc phụ thuộc chủ yếu vào cơ chế tự kiểm tra của chính bộ máy đã tạo ra và đang áp dụng quy phạm, thì tính tối cao của Hiến pháp dễ nghiêng về giá trị chuẩn tắc hơn là năng lực kiểm soát trực tiếp.
- Khi một nghị định vượt luật hoặc hạn chế quyền vượt quá thẩm quyền Khi xuất hiện nghi vấn một nghị định vượt quá luật hoặc không phù hợp với Hiến pháp, cần tránh cách phản biện chung chung rằng văn bản “trái tinh thần Hiến pháp”. Một lập luận pháp lý có sức nặng phải lần lượt kiểm tra ít nhất bốn tầng.
Thứ nhất, kiểm tra thẩm quyền Phải xác định luật nào là căn cứ cho quy phạm đang tranh luận và điều khoản nào trao cho Chính phủ quyền đặt ra nội dung cụ thể đó. Cần phân biệt việc luật trao quyền quản lý một lĩnh vực với việc luật trao quyền hạn chế một quyền.
Nếu nghị định tự bổ sung một giới hạn mà không thể truy nguyên tới một quyết định hoặc sự ủy quyền đủ rõ của luật, vấn đề đã phát sinh ngay ở tầng thẩm quyền. Khi đó, câu hỏi về tính cần thiết chưa phải là câu hỏi đầu tiên, bởi chủ thể trước hết phải có quyền hợp pháp để ban hành loại quy phạm đó.
Thứ hai, kiểm tra thứ bậc và tính thống nhất Nếu nghị định quy định khác với luật về cùng một vấn đề, nguyên tắc của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật yêu cầu áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.[2] Cơ quan áp dụng không thể lấy lý do nghị định cụ thể hơn hoặc dễ thực hiện hơn để đảo ngược thứ bậc pháp lý.
Cần lưu ý rằng xung đột không phải lúc nào cũng biểu hiện thành hai quy định đối lập trực tiếp. Một nghị định có thể không phủ nhận luật bằng câu chữ, nhưng lại bổ sung thêm điều kiện, điều cấm hoặc nghĩa vụ làm thay đổi thực chất phạm vi mà luật đã quy định. Đây là dạng xung đột khó nhận diện hơn nhưng không vì thế mà ít nghiêm trọng.
Thứ ba, kiểm tra theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp Nếu nội dung tác động đến quyền con người hoặc quyền công dân, phải xác định quyền nào bị hạn chế, căn cứ hạn chế có thực sự nằm ở luật hay không, mục tiêu thuộc trường hợp nào mà Hiến pháp cho phép, sự hạn chế có cần thiết hay không và có vượt quá mức cần thiết hay không. Một mục tiêu quản lý hữu ích không tự động trở thành căn cứ hiến định để hạn chế quyền. Việc giúp cơ quan nhà nước quản lý thuận tiện hơn cũng không đồng nghĩa với việc một biện pháp đã đáp ứng yêu cầu “cần thiết” của Điều 14.
Thứ tư, kích hoạt cơ chế xử lý văn bản và bảo vệ quyền trong vụ việc cụ thể Cơ quan, tổ chức và cá nhân có thể kiến nghị, phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật để kích hoạt cơ chế kiểm tra theo quy định hiện hành. Đối với văn bản của Chính phủ có dấu hiệu trái Hiến pháp hoặc luật, vấn đề còn thuộc phạm vi thẩm quyền giám sát, đình chỉ và bãi bỏ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội.
Nếu đã phát sinh quyết định hành chính hoặc quyết định xử phạt dựa trên quy phạm bị tranh luận, cần phân biệt hai đối tượng: quy phạm chung và quyết định cá biệt áp dụng quy phạm. Cơ chế tố tụng hành chính hiện nay không đồng nhất với tài phán hiến pháp, nhưng tính hợp pháp của căn cứ pháp lý được sử dụng trong quyết định cá biệt vẫn phải trở thành nội dung của lập luận khi quyền và lợi ích của người bị áp dụng bị xâm phạm. Vì thế, công thức “nghị định đang còn hiệu lực nên bắt buộc phải áp dụng” không thể được coi là lời giải thích đầy đủ cho mọi trường hợp. Hệ thống pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản tồn tại chính vì một văn bản có thể vẫn tồn tại về hình thức nhưng chứa đựng nội dung cần bị xem xét về tính hợp pháp.
- Đặt lại vị thế của Hiến pháp
Hiến pháp không cần được tuyên bố thêm một lần nữa rằng nó có hiệu lực pháp lý cao nhất. Điều 119 đã giải quyết vấn đề đó. Phần còn thiếu nằm ở khả năng làm cho vị trí ấy được phản ánh nhất quán trong xây dựng, kiểm tra và áp dụng pháp luật.
Trước hết, đối với mọi dự thảo nghị định có nội dung liên quan đến quyền con người, yêu cầu thẩm định phải bắt đầu từ căn cứ hạn chế quyền, không phải từ nhu cầu quản lý. Cơ quan soạn thảo phải chỉ ra điều khoản luật cho phép can thiệp, phạm vi ủy quyền và lý do vì sao nội dung đề xuất chỉ là sự cụ thể hóa chứ không phải một lựa chọn lập pháp mới. Nếu không chứng minh được điều đó, quy phạm không nên được đặt vào nghị định.
Thứ hai, nguyên tắc ưu tiên văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn phải trở thành một nguyên tắc vận hành chứ không chỉ tồn tại trong lý thuyết. Một cơ quan hành chính không thể mặc nhiên ưu tiên nghị định vì nghị định chi tiết hơn hoặc là văn bản mà cơ quan thường xuyên sử dụng; chính tính cụ thể của văn bản dưới luật không tạo cho nó quyền sửa đổi giới hạn mà luật đã đặt ra.
Thứ ba, cơ chế kiểm tra văn bản phải được vận hành như một công cụ bảo vệ quyền chứ không chỉ là nghiệp vụ nội bộ về chất lượng văn bản. Khi một cá nhân hoặc tổ chức kiến nghị rằng một quy định dưới luật làm hạn chế quyền trái với Điều 14, kết luận kiểm tra cần trả lời trực tiếp về căn cứ thẩm quyền, quan hệ với luật và tác động tới quyền, thay vì chỉ xem xét kỹ thuật soạn thảo.
Thứ tư, quyền đình chỉ và bãi bỏ văn bản trái Hiến pháp, luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội cần được nhìn nhận đúng với chức năng kiểm soát quyền lực mà Hiến pháp đã trao. Một thẩm quyền bảo hiến chỉ có ý nghĩa khi sự tồn tại của nó tạo ra khả năng thực tế ngăn hành pháp duy trì những quy phạm vượt quá phạm vi lập quy.
Cuối cùng, về lâu dài, cần tiếp tục đặt vấn đề hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo hướng người có quyền bị ảnh hưởng có khả năng tiếp cận một cơ chế kiểm tra đủ độc lập, đủ nhanh và đủ hiệu lực. Điều 119 đã đặt ra yêu cầu về cơ chế bảo vệ Hiến pháp; vấn đề còn lại là cơ chế đó phải làm được điều gì để một quyền hiến định không chỉ tồn tại trong văn bản mà có thể được viện dẫn hữu hiệu trước một sự can thiệp của quyền lực công.
Điều quan trọng hơn cả nằm ở cách hiểu về chính quá trình quản lý nhà nước. Hiến pháp không phải là văn bản được mang ra kiểm tra sau khi một chính sách đã được hoàn tất; Hiến pháp phải xác định giới hạn ngay từ thời điểm chính sách bắt đầu được hình thành. Cơ quan quản lý không thể trước tiên xác định điều gì thuận lợi nhất cho việc quản lý rồi sau đó tìm cách đặt nó vào nghị định. Trình tự đúng phải bắt đầu từ việc xác định quyền nào đang được Hiến pháp bảo vệ, luật đã cho phép hạn chế đến đâu, sau đó mới thiết kế công cụ quản lý trong phần không gian pháp lý còn lại. Ở ý nghĩa đó, đặt lại vị thế của Hiến pháp không phải đặt Hiến pháp lên một vị trí mới, mà là buộc toàn bộ hệ thống pháp luật hành xử theo vị trí mà Hiến pháp vốn đã có.
Khi nghị định thực hiện chức năng quy định chi tiết và tổ chức thi hành luật, nó nằm đúng trong trật tự. Khi nghị định tự đặt thêm một giới hạn đối với quyền mà luật chưa quyết định, vấn đề không còn là chất lượng của một điều khoản riêng lẻ mà là ranh giới giữa quyền lập pháp và quyền lập quy đã bị xâm lấn. Trật tự pháp luật chỉ được khôi phục khi ranh giới ấy có khả năng tạo ra hậu quả pháp lý thực sự đối với chính văn bản đã vượt qua nó.
CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 14, Điều 25, Điều 70, Điều 74 và Điều 119; xem đặc biệt Điều 119 về hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp và trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. [2] Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 ngày 19/02/2025, đặc biệt các quy định về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nguyên tắc áp dụng văn bản; Luật đã có nội dung được sửa đổi, bổ sung trong năm 2025. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. [3] Quốc hội, Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, khoản 2 Điều 1, trong đó loại trừ những nội dung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định và việc hạn chế quyền con người, quyền công dân khỏi một số phương án xử lý đặc biệt. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. [4] Chính phủ, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09/11/2024 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, các quy định liên quan đến việc sản xuất nội dung dưới hình thức phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí trên mạng xã hội. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. [5] Chính phủ, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. [6] Chính phủ, Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt các quy định về nguyên tắc kiểm tra, căn cứ kiểm tra, xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật và trách nhiệm của cơ quan kiểm tra. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. [7] Chính phủ, Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP, trong đó sửa đổi cơ chế và chủ thể kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. Tài liệu tham khảo bổ trợ
- Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
- Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
- Quốc hội, Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
- Chính phủ, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.
- Chính phủ, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin.
- Chính phủ, Nghị định số 79/2025/NĐ-CP về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
- Chính phủ, Nghị định số 187/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 78/2025/NĐ-CP và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP.

