-
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các tội xâm phạm sở hữu, đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, pháp luật hình sự không chỉ đòi hỏi chứng minh một thủ đoạn gian dối đã được sử dụng, mà còn đòi hỏi chứng minh người nào đã vì thủ đoạn ấy mà giao tài sản, tài sản nào đã bị dịch chuyển, giá trị bao nhiêu, hành vi chiếm đoạt đã hoàn thành ở thời điểm nào và phạm vi lỗi cố ý của từng người tham gia đến đâu. Những dữ kiện này cấu thành một chuỗi chứng minh thống nhất, bởi tài sản bị chiếm đoạt vừa là khách thể cụ thể bị xâm hại, vừa là đại lượng trực tiếp quyết định việc định tội, định khung và giới hạn trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Bộ luật Hình sự. Khi chuỗi chứng minh ấy chưa được hoàn thành, cơ quan tiến hành tố tụng không thể thay thế các mắt xích còn thiếu bằng một con số được gọi là “hưởng lợi bất chính”, bởi khoản lợi ích mà một người có thể nhận được chỉ là hệ quả phái sinh từ hành vi phạm tội đã được chứng minh, chứ không phải dữ kiện có khả năng tự mình chứng minh ngược sự tồn tại của những hành vi chiếm đoạt chưa xác định.
Sự nhầm lẫn giữa hai phạm trù này đặc biệt nguy hiểm khi một vụ án phát sinh từ hoạt động có dòng tiền lớn, nhiều người tham gia, hàng hóa thật, doanh thu, chi phí, hoàn ứng và các khoản thanh toán nội bộ, bởi tổng số tiền một cá nhân từng nhận, tổng doanh thu của doanh nghiệp hoặc một tỷ lệ ước lượng về lợi ích không đồng nhất với tài sản bị chiếm đoạt và cũng không đương nhiên là khoản thu lợi bất chính. Nếu cơ quan tố tụng dùng một lời khai ước lượng để xác định số tiền hưởng lợi, sau đó lấy sự chênh lệch giữa khoản hưởng lợi ấy với số tiền của các bị hại đã xác định để suy đoán rằng còn nhiều bị hại khác chưa được tìm thấy, thì quá trình chứng minh đã bị đảo ngược: con số chưa được kiểm chứng tạo ra giả thuyết về hành vi phạm tội, còn giả thuyết ấy lại được dùng để hợp thức hóa con số.
Tình huống được nghiên cứu trong bài viết cho thấy vấn đề không dừng ở ngôn ngữ của cáo trạng, mà đã chuyển thành hậu quả tài sản cụ thể trong bản án, khi khoản bồi thường trực tiếp cho bị hại và khoản tự nguyện nộp khắc phục được cộng chung để khấu trừ vào một tỷ đồng được gọi là “thu lợi bất chính”, rồi phần chênh lệch 380 triệu đồng tiếp tục bị truy thu để giao cơ quan thi hành án dân sự quản lý, chờ những bị hại chưa xác định xuất hiện. Cách xử lý này đặt ra câu hỏi cốt lõi về giới hạn quyền lực hình sự: Nhà nước có thể tước tài sản của bị cáo trước khi chứng minh được khoản tiền ấy có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nào, thuộc về ai và tạo ra lợi ích thực tế nào cho bị cáo hay không; cơ quan thi hành án dân sự có thể trở thành nơi lưu giữ một khoản tiền mà chủ thể có quyền nhận, căn cứ bồi thường và nguồn gốc phạm tội đều chưa được xác định tại thời điểm tuyên án hay không; và liệu việc tự nguyện nộp tiền để xin khoan hồng có thể bị sử dụng ngược lại như chứng cứ làm phát sinh chính nghĩa vụ tài sản mà cơ quan buộc tội chưa chứng minh được hay không.
-
TÌNH HUỐNG NGHIÊN CỨU VÀ CẤU TRÚC QUY KẾT TRONG VỤ ÁN
2.1. Dữ kiện từ cáo trạng và diễn biến xét xử
Tình huống nghiên cứu cần được đặt trong đúng cấu trúc mà cơ quan công tố và bản án đã sử dụng, bởi điểm gây tranh luận không nằm ở một phép tính đơn lẻ mà nằm trong cách hai đại lượng được xác lập và sau đó bị nhập lại với nhau. Theo Cáo trạng số 62X ngày 20/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T, bị cáo T. phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 238,5 triệu đồng được xác định là khoản tài sản mà nhóm đã chiếm đoạt của bị hại C. trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến hết tháng 6/2024, đồng thời Cáo trạng ghi nhận T. được hưởng lợi một tỷ đồng trong thời gian tham gia hoạt động của doanh nghiệp. Hai con số này không được đặt cùng một vị trí trong cấu trúc truy tố, bởi 238,5 triệu đồng là căn cứ định lượng để áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự, còn một tỷ đồng được mô tả như khoản lợi ích mà T. đã nhận và được sử dụng làm cơ sở xử lý tài sản; chính sự tách biệt ban đầu ấy cho thấy cơ quan truy tố không coi một tỷ đồng là giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc phạm vi trách nhiệm hình sự của T., bởi nếu coi đó là tài sản chiếm đoạt thì ngưỡng định khung và phạm vi truy cứu sẽ phải được xác định theo một cấu trúc khác.
Trước khi xét xử, T. đã bồi thường trực tiếp 120 triệu đồng cho bị hại C., người bị hại sau đó có văn bản miễn yêu cầu đối với phần còn lại, đồng thời T. đã tự nguyện nộp 500 triệu đồng với mục đích khắc phục hậu quả và thể hiện thái độ hợp tác. Khi tuyên án, Hội đồng xét xử phạt T. 5 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng ở phần xử lý tài sản lại cộng khoản 120 triệu đồng đã bồi thường cho C. với khoản 500 triệu đồng đã nộp, coi tổng cộng 620 triệu đồng là phần đã thực hiện trong số một tỷ đồng được cho là thu lợi bất chính, rồi tiếp tục truy thu 380 triệu đồng để đủ một tỷ đồng. Bản án đồng thời chấp nhận lập luận rằng còn nhiều bị hại chưa xác định được tung tích, do đó số tiền thu từ các bị cáo sẽ được giao cơ quan thi hành án dân sự quản lý trong một thời hạn để hoàn trả nếu tìm được người bị hại, còn nếu hết thời hạn mà không có người nhận thì chuyển nộp ngân sách nhà nước; chính cấu trúc này làm phát sinh câu hỏi học thuật trung tâm rằng một khoản tiền có thể được xác định là thu lợi bất chính khi chưa chứng minh được những hành vi chiếm đoạt tạo ra khoản lợi ấy hay không, và liệu cơ quan xét xử có thể dùng khả năng xuất hiện bị hại trong tương lai để hợp thức hóa việc tước tài sản tại thời điểm tuyên án hay không.
Tác giả không phủ nhận rằng trong các vụ án có nhiều giao dịch, cơ quan tiến hành tố tụng đôi khi chưa liên hệ được đầy đủ với từng người bị thiệt hại nhưng vẫn có thể chứng minh nguồn gốc phạm tội của một khoản tiền bằng dữ liệu khách quan khác, chẳng hạn sao kê tài khoản, chứng từ chuyển phát, mã đơn hàng, ghi âm cuộc gọi, dữ liệu điện tử hoặc bảng đối chiếu dòng tiền có thể kiểm tra. Tuy nhiên, sự chưa xác định được danh tính đầy đủ của một người bị hại chỉ có thể được khắc phục bằng chứng cứ về chính giao dịch chiếm đoạt, chứ không thể được thay thế bằng một con số ước lượng về khoản lợi ích mà bị cáo cho rằng mình đã nhận; nếu không có người giao tài sản, không có giao dịch, không có giá trị tài sản, không có đường đi của dòng tiền và không có chứng cứ độc lập về số tiền bị cáo thực tế chiếm hữu, thì điều còn thiếu không chỉ là tên người nhận tiền bồi thường mà là sự tồn tại của hành vi phạm tội tương ứng với phần tiền bị truy thu.
Theo Cáo trạng 62X bị cáo T. được xác định giữ vị trí Chủ tịch một doanh nghiệp từ giữa tháng 12/2023 đến cuối tháng 6/2024, “được hưởng lợi 1.000.000.000 đồng”, đồng thời “phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền cả nhóm chiếm đoạt được của bị hại C. từ tháng 01/2024 đến tháng 6/2024 là 238.500.000 đồng”, từ đó bị truy tố theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cùng trong bản cáo trạng, cơ quan truy tố tách tương đối nhất quán hai nhóm đại lượng đối với nhiều bị can: một bên là số tiền mà từng người phải chịu trách nhiệm hình sự theo phạm vi thời gian, vai trò và các bị hại đã xác định; bên còn lại là khoản tiền được ghi là “hưởng lợi”. Việc T. bị truy tố theo khoản 3, thay vì khoản 4 Điều 174, cho thấy chính cơ quan truy tố không sử dụng con số một tỷ đồng như giá trị tài sản chiếm đoạt để định khung, bởi nếu một tỷ đồng là tài sản chiếm đoạt thuộc phạm vi trách nhiệm hình sự của T. thì ngưỡng định lượng đã vượt 500 triệu đồng.
Theo diễn biến xét xử sơ thẩm do người tham gia bào chữa cung cấp, trước khi bản án được tuyên, T. đã bồi thường trực tiếp 120 triệu đồng cho bị hại C. và được người này làm đơn không yêu cầu phần còn lại, đồng thời T. đã chủ động nộp 500 triệu đồng để khắc phục hậu quả đối với khoản mà cáo trạng cho rằng bị cáo hưởng lợi bất chính. Tòa án tuyên T. phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xử phạt năm năm tù, đồng thời chấp nhận con số hưởng lợi một tỷ đồng, cộng khoản 120 triệu đồng đã trả cho bị hại với khoản 500 triệu đồng đã nộp thành 620 triệu đồng và truy thu thêm 380 triệu đồng để đủ một tỷ đồng. Khoản tiền được xác định sẽ do cơ quan thi hành án dân sự quản lý trong một thời hạn nhằm trả cho các bị hại khác nếu họ được tìm thấy, còn nếu hết thời hạn mà không có người nhận thì chuyển nộp ngân sách nhà nước.
2.2. Hai đại lượng bị nhập làm một trong giai đoạn xử lý tài sản
Cấu trúc của cáo trạng ban đầu cho thấy 238,5 triệu đồng và một tỷ đồng được định danh khác nhau, nhưng cách xử lý của bản án lại làm hai đại lượng hội tụ trong cùng một phép tính. Khoản 120 triệu đồng là tiền đã trả trực tiếp cho một bị hại xác định, gắn với phần tài sản bị cáo bị quy là cùng đồng phạm chiếm đoạt; khoản 500 triệu đồng là tiền bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục trước xét xử; phần 380 triệu đồng là số dư được truy thu nhằm đạt đủ một tỷ đồng mà cáo trạng gọi là hưởng lợi. Khi cả ba khoản được đặt trên một trục duy nhất, một tỷ đồng đồng thời mang vai trò của tổng lợi ích cá nhân của bị cáo, tổng tài sản của các bị hại chưa xác định và nghĩa vụ hoàn trả hoặc tịch thu cần được bảo đảm bằng thi hành án, trong khi ba tư cách này có căn cứ chứng minh và chế độ xử lý khác nhau.
Sự nhập lẫn này không thể được lý giải bằng nhu cầu bảo vệ quyền lợi của những người có thể là bị hại, bởi bảo vệ bị hại đòi hỏi trước hết phải xác định được hành vi xâm hại, khoản thiệt hại và mối liên hệ giữa người có nghĩa vụ với người có quyền. Việc chưa tìm thấy bị hại đồng nghĩa với việc không có cơ sở chứng minh nghĩa vụ của bị cáo đối với các bị hại đó (đây là dạng sự kiện không được chứng minh được) đồng thời không biến một khoản tiền chưa rõ nguồn gốc thành tài sản của họ; ngược lại, việc gọi khoản tiền là thu lợi bất chính cũng không thể tự tạo ra quyền hoàn trả cho những chủ thể chưa được xác định. Tư cách pháp lý của tiền phải được xác lập từ nguồn gốc và chứng cứ tại thời điểm xét xử, không thể phụ thuộc vào việc sau bản án có hay không xuất hiện một người đến nhận.
- “TÀI SẢN BỊ CHIẾM ĐOẠT” LÀ ĐẠI LƯỢNG CẤU THÀNH CỦA ĐIỀU 174, CÒN “THU LỢI BẤT CHÍNH” LÀ HỆ QUẢ PHÁI SINH 3.1. Cấu trúc pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Điều 174 Bộ luật Hình sự xây dựng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mối liên hệ nhân quả giữa thủ đoạn gian dối và sự dịch chuyển tài sản, theo đó người phạm tội đưa ra thông tin sai sự thật hoặc che giấu sự thật nhằm làm cho chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản nhận thức sai lệch, từ sự nhận thức sai lệch ấy tự nguyện giao tài sản, để rồi người phạm tội chiếm đoạt tài sản đó. Bởi vậy, cấu thành của tội phạm không dừng ở việc chứng minh một phương thức kinh doanh có gian dối hoặc một bị cáo đã nhận tiền từ doanh nghiệp, mà phải đi qua các dữ kiện cụ thể gồm chủ thể bị tác động, nội dung gian dối, trạng thái nhầm tưởng, hành vi giao tài sản, giá trị tài sản, thời điểm hoàn thành việc chiếm đoạt và phạm vi lỗi cố ý của từng người đồng phạm; khi thiếu một trong các mắt xích này đối với một khoản tiền cụ thể, khoản tiền ấy chưa thể được đưa vào giá trị tài sản chiếm đoạt chỉ bằng suy luận rằng nó có vẻ phát sinh trong cùng một môi trường hoạt động có vi phạm.
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không phải một yếu tố phụ chỉ phục vụ bồi thường, bởi nó trực tiếp quyết định việc hành vi có đạt ngưỡng truy cứu hay không và thuộc khoản nào của Điều 174. Trong tình huống nghiên cứu, 238,5 triệu đồng được dùng để đặt bị cáo T. vào điểm a khoản 3 Điều 174, trong khi một tỷ đồng không được dùng để định khung; sự lựa chọn này có ý nghĩa pháp lý bắt buộc, bởi nó xác nhận rằng cơ quan buộc tội chỉ chứng minh trách nhiệm hình sự của T. đối với khoản tiền của C., còn phần chênh lệch được đặt ở một chế định khác. Không thể ở giai đoạn định tội coi một tỷ đồng không phải tài sản chiếm đoạt để tránh hệ quả của khoản 4 Điều 174, nhưng ở giai đoạn lượng hình và xử lý tài sản lại đối xử với toàn bộ con số đó như hậu quả trực tiếp của các hành vi lừa đảo đã được chứng minh, bởi cách vận hành ấy cho phép cùng một đại lượng thay đổi bản chất theo mục đích sử dụng mà không có chứng cứ mới làm cầu nối.
Trong cấu trúc đồng phạm, số tiền một người thực tế nhận không phải giới hạn duy nhất của trách nhiệm hình sự, bởi người cùng cố ý có thể phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ tài sản nằm trong phạm vi ý chí chung dù chưa được chia lợi ích. Tuy nhiên, nguyên tắc này không cho phép suy luận ngược rằng người nào khai đã nhận một khoản tiền thì đương nhiên cùng đồng phạm chiếm đoạt một khoản tương ứng. Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đòi hỏi phải xác định phạm vi ý chí chung, vai trò, mức độ tham gia và hành vi vượt quá của người thực hành, vì vậy khoản lợi ích thực nhận chỉ có giá trị hỗ trợ khi đã biết khoản lợi ấy xuất phát từ hành vi phạm tội nào và thuộc phạm vi đồng phạm nào; nếu hành vi gốc chưa được chứng minh, khoản tiền nhận được, dù có thật, vẫn chưa tự động chuyển hóa thành giá trị chiếm đoạt thuộc trách nhiệm hình sự.
Điều 174 Bộ luật Hình sự mô tả hành vi phạm tội bằng mô tả và cấu trúc “dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác”, trong đó thủ đoạn gian dối là phương thức tác động đến nhận thức của chủ tài sản, còn sự giao tài sản do nhầm tưởng và việc người phạm tội chiếm đoạt được tài sản là kết quả cấu thành. Các ngưỡng định lượng từ hai triệu đồng, năm mươi triệu đồng, hai trăm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng đều gắn với “tài sản chiếm đoạt”, chứ không gắn với doanh thu, lợi nhuận, khoản tiền được chia hoặc mức hưởng lợi của từng người đồng phạm. Điều này phản ánh một logic nhất quán: đối tượng mà pháp luật bảo vệ là quyền sở hữu của người bị hại, vì vậy đại lượng quyết định trách nhiệm hình sự phải được xác định từ phần tài sản đã bị tước khỏi chủ sở hữu bằng thủ đoạn gian dối.
Trong vụ án đồng phạm, số tiền một người trực tiếp nhận không nhất thiết trùng với số tiền mà người đó phải chịu trách nhiệm hình sự, bởi phạm vi trách nhiệm còn phụ thuộc vào ý chí chung, vai trò, thời gian tham gia và hành vi mà người đó cùng cố ý thực hiện. Một người không được chia tiền vẫn có thể chịu trách nhiệm đối với toàn bộ tài sản chiếm đoạt nằm trong phạm vi đồng phạm; ngược lại, một người từng nhận tiền từ hoạt động doanh nghiệp không vì thế mà đương nhiên chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số tiền đã nhận. Chính vì vậy, “hưởng lợi” không thể thay thế việc chứng minh phạm vi đồng phạm, còn “tài sản bị chiếm đoạt” không thể được suy ra chỉ từ một phép ước lượng về lợi ích cá nhân.
3.2. Nội hàm của khoản thu lợi bất chính
Thu lợi bất chính là khái niệm chỉ lợi ích vật chất mà một chủ thể thực tế có thêm từ hành vi trái pháp luật hoặc từ việc phạm tội, nhưng khái niệm này không đồng nhất với doanh thu, tổng tiền đi qua tài khoản, tổng tiền được rút khỏi doanh nghiệp, phần vốn hoàn lại, khoản vay, tiền hoàn ứng, tiền lương, chi phí hoặc tài sản bị chiếm đoạt của bị hại. Trong một hoạt động có hàng hóa thật, nhân công, kho vận, cước chuyển phát, chi phí quảng cáo và dòng tiền nội bộ, việc xác định khoản lợi ích bất chính đòi hỏi truy nguyên từng dòng tiền, xác định chủ thể thực nhận, loại trừ các khoản không tạo ra lợi ích ròng và chỉ giữ lại phần có quan hệ nguồn gốc trực tiếp với hành vi phạm tội; nếu không thực hiện các bước này, thuật ngữ thu lợi bất chính trở thành một nhãn gọi thay cho mọi khoản tiền chưa được giải thích, từ đó che lấp chính khoảng trống chứng minh mà lẽ ra phải được làm rõ.
Điều 47 Bộ luật Hình sự đặt vật hoặc tiền do phạm tội mà có và khoản thu lợi bất chính trong nhóm tài sản có thể bị tịch thu, đồng thời tách riêng vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép để trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Sự phân biệt này cho thấy khoản thu lợi bất chính không phải là một phiên bản khác của tài sản bị chiếm đoạt, mà là một lợi ích phái sinh có thể xuất hiện sau khi tài sản phạm tội đã được dịch chuyển, phân chia, chuyển hóa hoặc sinh lợi; vì vậy, việc xác định khoản lợi bất chính luôn phụ thuộc vào việc chứng minh nguồn gốc phạm tội của nó, còn việc xác định tài sản bị chiếm đoạt lại phụ thuộc vào người bị hại, hành vi giao tài sản và giá trị tài sản bị xâm phạm. Khi hai phạm trù bị nhập làm một, bản án sẽ không thể trả lời nhất quán khoản tiền phải được trả cho ai, bị tịch thu vì lý do gì, hay được giữ lại để bảo đảm nghĩa vụ nào.
Cũng cần phân biệt khoản thu lợi bất chính với tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bởi Điều 174 không sử dụng đại lượng thu lợi bất chính để xác định khoản áp dụng, còn Điều 52 không coi việc hưởng lợi nhiều là một tình tiết tăng nặng độc lập. Một khoản lợi đã được chứng minh có thể được xem xét trong đánh giá động cơ, vai trò, mức độ tham gia hoặc khả năng khắc phục hậu quả, nhưng không thể được sử dụng như một tình tiết tăng nặng ngoài luật, càng không thể vừa làm căn cứ suy đoán bị cáo giữ vai trò cầm đầu, vừa được hợp thức hóa bằng chính nhận định rằng người cầm đầu tất nhiên phải hưởng lợi lớn; đó là một vòng suy luận mà mỗi kết luận đều dựa trên kết luận kia thay vì dựa trên chứng cứ khách quan.
Bộ luật Hình sự không đưa ra một định nghĩa chung duy nhất về “thu lợi bất chính” cho mọi tội danh, nhưng Điều 47 xác định khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội là một trong những đối tượng có thể bị tịch thu sung ngân sách nhà nước, bên cạnh vật hoặc tiền do phạm tội mà có. Từ cấu trúc này có thể rút ra rằng khoản thu lợi bất chính phải là lợi ích tài sản thực tế phát sinh từ hành vi phạm tội, thuộc về một chủ thể cụ thể và có khả năng được cá thể hóa bằng chứng cứ về nguồn gốc, thời điểm, số lượng và cách thức thụ hưởng. Một tỷ lệ ước tính từ doanh thu, tổng tiền đi qua tài khoản hoặc tổng số tiền một cá nhân từng nhận từ doanh nghiệp chỉ là dữ liệu điều tra ban đầu, không phải kết luận pháp lý về thu lợi bất chính.
Đối với một mô hình có hàng hóa, nhân sự, kho vận, chi phí chuyển phát, vốn góp, vay mượn và các khoản thanh toán nội bộ, việc xác định khoản lợi ích thực tế càng đòi hỏi truy nguyên dòng tiền, bởi một khoản chuyển cho cá nhân có thể là hoàn vốn, hoàn ứng, trả nợ, tiền lương, phân chia lợi nhuận hợp pháp, khoản quản lý hộ hoặc tiền do phạm tội mà có. Không thể bỏ qua sự phân loại ấy rồi gọi toàn bộ số tiền là “hưởng lợi bất chính”, bởi cách gọi không tạo ra bản chất pháp lý; bản chất chỉ được hình thành từ chứng cứ chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa khoản tiền và hành vi phạm tội.
3.3. Quan hệ thứ tự giữa chiếm đoạt và hưởng lợi
Về mặt logic, hành vi chiếm đoạt phải được chứng minh trước khi khoản thu lợi từ hành vi ấy được xác định, bởi không thể có lợi ích bất chính từ một hành vi phạm tội chưa được chứng minh. Trình tự đúng phải bắt đầu từ việc xác định người bị tác động bởi thủ đoạn gian dối, khoản tài sản đã giao, lý do giao tài sản, người nhận hoặc kiểm soát tài sản, sau đó mới lần theo dòng tiền để xác định lợi ích thực tế của từng người tham gia. Trình tự ngược lại, bắt đầu từ lời khai rằng một người “có thể đã hưởng” một khoản tiền rồi suy đoán rằng phải tồn tại những bị hại tương ứng, biến hệ quả thành nguyên nhân và làm cho nghĩa vụ chứng minh mất đi điểm tựa khách quan.
- VÒNG SUY LUẬN TỰ CHỨNG MINH VÀ SỰ THIẾU VẮNG CỦA CHỨNG CỨ ĐỘC LẬP
4.1. Từ lời khai một tỷ đồng đến giả thuyết về các bị hại chưa xác định
Vòng suy luận trong tình huống nghiên cứu có thể được mô tả theo ba bước liên tiếp: trước hết, lời khai của T. về doanh thu hoặc tỷ lệ lợi ích được sử dụng để hình thành con số một tỷ đồng; tiếp đó, vì tổng số tiền được cho là các bị cáo hưởng lớn hơn tổng giá trị tài sản của các bị hại đã xác định, cơ quan tố tụng suy ra rằng còn nhiều bị hại khác chưa tìm thấy; cuối cùng, chính giả thuyết về các bị hại chưa tìm thấy được dùng để khẳng định phần tiền chênh lệch là tiền có nguồn gốc từ hoạt động lừa đảo và cần được thu giữ để chờ hoàn trả. Trong cấu trúc ấy, lời khai tạo ra giả thuyết về bị hại, còn giả thuyết về bị hại lại xác nhận lời khai, trong khi không có một tầng chứng cứ độc lập về giao dịch, người chuyển tiền, số tiền bị giao do gian dối hoặc đường đi tài chính đến bị cáo; đây là dạng suy luận vòng tròn, bởi kết luận cần chứng minh được dùng làm tiền đề cho chính nó.
Sự chênh lệch giữa khoản hưởng lợi được khai báo và số tiền chiếm đoạt đã chứng minh có thể là dấu hiệu để tiếp tục điều tra, nhưng tự thân nó không chứng minh được sự tồn tại của những vụ lừa đảo khác. Trong một doanh nghiệp có nhiều dòng tiền, phần chênh lệch có thể xuất phát từ doanh thu của giao dịch chưa được xác định là phạm tội, dòng tiền luân chuyển nhiều lần, vốn góp, khoản vay, khoản hoàn trả, chi phí bị hạch toán sai, tiền của giai đoạn khác, hoặc đơn giản là sự ước lượng không chính xác của người khai; cơ quan buộc tội chỉ có thể loại trừ các khả năng này bằng chứng cứ tài chính và dữ liệu giao dịch, chứ không thể chọn khả năng bất lợi nhất cho bị cáo chỉ vì nó phù hợp với giả thuyết buộc tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong trường hợp này vận hành ở cấp độ định lượng, theo đó phần tiền không được chứng minh phải được loại khỏi phạm vi xử lý bất lợi, chứ không được giữ lại như một khoản tạm thời chờ chứng cứ xuất hiện sau.
Việc chưa tìm thấy bị hại không phải luôn đồng nghĩa với việc không thể chứng minh tội phạm, nhưng muốn vượt qua khoảng trống về danh tính, cơ quan tố tụng phải có dữ liệu đủ xác định một chủ thể đã giao tài sản do gian dối và khoản tài sản cụ thể đã bị chiếm đoạt. Nếu chỉ có lời khai của bị cáo rằng mình có thể đã nhận khoảng một tỷ đồng, nhưng không có sao kê, biên nhận, bảng thanh toán, dữ liệu phân chia lợi nhuận, chứng từ kế toán hoặc dấu vết tài sản cho thấy số tiền đã thực sự đi vào quyền kiểm soát của T., thì ngay cả yếu tố hưởng lợi cũng chưa được chứng minh, chứ chưa nói đến nguồn gốc của khoản lợi; trong bối cảnh ấy, việc sử dụng con số một tỷ đồng để suy ra các bị hại khác là chuyển từ một sự kiện chưa chứng minh sang một sự kiện chưa chứng minh khác, rồi dùng hai sự kiện ấy làm nền tảng tước tài sản.
Trong tình huống nghiên cứu, cơ sở trực tiếp để xác định T. hưởng lợi một tỷ đồng được phản ánh chủ yếu từ lời khai của chính bị cáo về mức doanh thu và tỷ lệ lợi ích mà mình có thể được hưởng trong giai đoạn tham gia doanh nghiệp. Tuy nhiên, lời khai ước lượng không tự chứng minh tổng doanh thu thực tế, phần doanh thu nào phát sinh từ hành vi phạm tội, tổng chi phí, số tiền thực tế đã được chuyển cho bị cáo, thời điểm nhận tiền và khoản nào còn tồn tại dưới dạng lợi ích cá nhân. Khi những dữ liệu này không được kiểm chứng bằng sao kê, sổ kế toán, chứng từ chi trả, bảng đối chiếu giao dịch hoặc lời khai độc lập phù hợp, con số một tỷ đồng chưa vượt qua trạng thái của một ước tính chủ quan.
Từ con số ấy, cơ quan tố tụng suy luận rằng tổng số tiền các bị cáo hưởng lớn hơn tổng tài sản của những bị hại đã xác định, nên phải còn nhiều bị hại chưa được phát hiện; sau đó, giả thuyết về các bị hại chưa phát hiện lại được dùng để khẳng định phần tiền chênh lệch có nguồn gốc từ lừa đảo và phải được thu giữ để hoàn trả. Đây là một vòng suy luận tự chứng minh, bởi không có chứng cứ độc lập nào đứng giữa con số hưởng lợi và sự tồn tại của các hành vi chiếm đoạt khác. Con số tạo ra bị hại giả định, còn bị hại giả định quay lại hợp thức hóa con số.
4.2. Giới hạn của lời nhận tội và lời khai bất lợi
Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự không cấm sử dụng lời nhận tội hoặc lời khai bất lợi của bị cáo, nhưng đặt ra một giới hạn rõ ràng rằng lời nhận tội chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án và không được dùng làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Giới hạn này phải được hiểu bao gồm cả những tình tiết làm mở rộng phạm vi trách nhiệm, làm nặng hình phạt hoặc dẫn đến tước tài sản, bởi một bản án hình sự không chỉ kết luận về tội danh mà còn quyết định hậu quả pháp lý toàn diện đối với tự do và tài sản của con người; nếu cơ quan tố tụng không được dùng lời nhận tội duy nhất để kết tội, thì càng không thể dùng một lời khai ước lượng duy nhất để xác lập một nghĩa vụ truy thu có giá trị hàng trăm triệu đồng.
Lời khai về thu nhập, doanh thu hoặc tỷ lệ được chia trong một doanh nghiệp thường mang tính ước lượng, phụ thuộc ký ức và cách hiểu của người khai, trong khi thuật ngữ hưởng lợi có thể được người bị hỏi sử dụng theo nghĩa thông thường chứ không theo nghĩa pháp lý của Điều 47. Bởi vậy, cơ quan điều tra phải kiểm tra lời khai bằng sao kê, chứng từ kế toán, bảng lương, hợp đồng vay, tài liệu góp vốn, dữ liệu chuyển khoản và chứng cứ về việc chiếm hữu thực tế; nếu không có sự kiểm tra ấy, một câu trả lời được đưa ra trong điều kiện bị hỏi cung có thể bị biến thành một phép tính tài chính hoàn chỉnh mà chính người khai không có khả năng xác nhận. Việc T. tự nguyện nộp 500 triệu đồng để khắc phục cũng không làm thay đổi nguyên tắc này, bởi hành vi nộp tiền nhằm xin khoan hồng không đồng nghĩa với việc từ bỏ quyền yêu cầu Nhà nước chứng minh con số một tỷ đồng, và càng không thể được dùng ngược lại như chứng cứ xác nhận nghĩa vụ gốc.
Ở phương diện logic chứng cứ, phải phân biệt sự thừa nhận đã được nhận một khoản tiền với sự thừa nhận khoản tiền ấy là thu lợi bất chính từ tội phạm; ngay cả khi T. thừa nhận đã nhận một tỷ đồng, cơ quan tố tụng vẫn phải chứng minh nguồn gốc của nó, phạm vi thời gian, quan hệ với các hành vi lừa đảo đã được xét xử và việc loại trừ các nguồn hợp pháp. Nếu lời khai chỉ là ước lượng rằng doanh thu mỗi tháng khoảng một mức nào đó và bị cáo có thể được hưởng một tỷ lệ nhất định, thì con số cuối cùng còn là kết quả của phép suy tính chứ chưa phải một giao dịch được chứng minh; việc biến phép ước lượng thành nghĩa vụ truy thu là hạ thấp tiêu chuẩn chứng minh từ sự chắc chắn hợp lý xuống mức suy đoán thuận tiện.
Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ khi phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án và không được dùng làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Mặc dù kết luận về một khoản thu lợi bất chính có thể được xem là nội dung xử lý tài sản chứ không phải riêng yếu tố kết tội, tiêu chuẩn kiểm chứng vẫn phải được áp dụng, bởi hậu quả là tước quyền sở hữu và làm nặng đánh giá về vai trò, động cơ, mức độ tham gia của bị cáo. Một lời khai không được phép là chứng cứ duy nhất để kết tội thì càng không thể một mình tạo ra một nghĩa vụ truy thu một tỷ đồng, nhất là khi khoản tiền ấy còn được dùng để suy đoán thêm các hành vi phạm tội và các bị hại chưa xác định.
Việc bị cáo đã tự nguyện nộp 500 triệu đồng không làm thay đổi kết luận này, bởi hành vi nộp tiền trước xét xử có thể xuất phát từ mong muốn khắc phục hậu quả, bảo đảm quyền lợi cho bị hại, thể hiện thái độ hợp tác hoặc tìm kiếm sự khoan hồng, chứ không mặc nhiên là sự thừa nhận pháp lý rằng mọi nội dung buộc tội về nguồn tiền và số lượng đều chính xác. Nếu việc tự nguyện nộp tiền được sử dụng ngược lại như chứng cứ xác nhận nghĩa vụ gốc, tố tụng sẽ tạo ra một nghịch lý nguy hiểm: càng tích cực khắc phục, bị cáo càng bị coi là đã thừa nhận con số cáo buộc; còn cơ quan buộc tội được miễn chứng minh chính khoản tiền mà bị cáo đã nộp vì mục đích xin giảm nhẹ.
4.3. Nghĩa vụ chứng minh theo Điều 13, Điều 15, Điều 85 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự
Nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 và trách nhiệm chứng minh tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự không chỉ điều chỉnh câu hỏi một người có phạm tội hay không, mà còn chi phối mọi tình tiết được sử dụng để xác định phạm vi trách nhiệm, hậu quả, vai trò và biện pháp xử lý tài sản. Điều 85 yêu cầu chứng minh tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cùng những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án; Điều 108 yêu cầu mỗi chứng cứ phải được kiểm tra về tính hợp pháp, xác thực và liên quan, đồng thời toàn bộ chứng cứ phải được đánh giá đầy đủ, khách quan. Vì vậy, khi cơ quan tố tụng muốn truy thu một tỷ đồng hoặc phần còn lại 380 triệu đồng, họ phải chứng minh nghĩa vụ gốc bằng dữ liệu có thể kiểm tra, chứ không thể chuyển gánh nặng sang bị cáo bằng yêu cầu bị cáo chứng minh rằng mình không hưởng số tiền ấy.
Suy đoán vô tội trong trường hợp này vận hành ở phương diện định lượng và tài sản: nếu chứng cứ chỉ xác định chắc chắn một phần, phần còn lại không được giữ trong phép tính bất lợi; nếu có nhiều khả năng hợp lý về nguồn gốc của dòng tiền, khả năng bất lợi nhất không thể được lựa chọn chỉ vì phù hợp với giả thuyết buộc tội; nếu không thể làm sáng tỏ bằng chứng cứ khách quan rằng bị cáo thực tế nhận một tỷ đồng từ hành vi phạm tội, khoản tiền ấy không thể được dùng để truy thu, đánh giá vai trò hoặc làm nặng hình phạt.
- SỰ NHẬP LẪN GIỮA ĐIỀU 47 VÀ ĐIỀU 48 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
5.1. Ba cơ chế khác nhau: hoàn trả, bồi thường và tịch thu Điều 47 Bộ luật Hình sự phân biệt rõ vật, tiền do phạm tội mà có hoặc khoản thu lợi bất chính, có thể bị tịch thu sung ngân sách nhà nước, với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, không bị tịch thu mà phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Điều 48 tiếp tục quy định người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định. Sự phân biệt này không mang tính kỹ thuật hình thức, mà phản ánh hai quyền lợi đối lập cần được bảo vệ: quyền của bị hại đối với tài sản bị xâm phạm và quyền của Nhà nước tước bỏ lợi ích bất chính của người phạm tội khi lợi ích ấy đã được chứng minh.
Một khoản tiền không thể đồng thời được xử lý như tài sản của bị hại và như khoản lợi ích độc lập của bị cáo nếu bản án không chỉ ra sự khác biệt về nguồn gốc. Nếu tiền là tài sản bị chiếm đoạt, chủ thể có quyền nhận phải được xác định hoặc ít nhất giao dịch và khoản thiệt hại phải được chứng minh đủ để xác lập quyền; nếu tiền là khoản thu lợi bất chính, cơ quan tố tụng phải chứng minh lợi ích cá nhân phát sinh từ hành vi phạm tội và áp dụng cơ chế tịch thu tương ứng; nếu là tài sản hợp pháp bị cáo tự nguyện nộp để bảo đảm khắc phục, việc sử dụng khoản tiền phải gắn với nghĩa vụ dân sự hoặc biện pháp tư pháp đã được xác định trong bản án.
5.2. Phép tính 120 triệu đồng + 500 triệu đồng + 380 triệu đồng = một tỷ đồng
Phép tính của bản án không sai về số học nhưng chứa đựng một mâu thuẫn pháp lý nội tại, bởi 120 triệu đồng được T. bồi thường trực tiếp cho bị hại C. là khoản thực hiện nghĩa vụ hoàn trả hoặc bồi thường đối với tài sản bị chiếm đoạt, trong khi 500 triệu đồng được nộp với danh nghĩa khắc phục khoản thu lợi bất chính và 380 triệu đồng bị truy thu để làm đủ một tỷ đồng. Khi ba khoản này được đặt trong cùng một phép cộng, bản án đã coi tiền bồi thường cho bị hại và tiền bị tịch thu hoặc truy thu là những phần đồng nhất của một nghĩa vụ duy nhất, mặc dù Điều 47 và Điều 48 quy định mục đích, chủ thể thụ hưởng và căn cứ áp dụng khác nhau; sự đồng nhất ấy chỉ có thể hợp lý nếu bản án chứng minh rằng một tỷ đồng thực chất là tài sản của các bị hại, nhưng nếu vậy thì cách gọi toàn bộ là thu lợi bất chính lại không chính xác và phải xác định từng khoản thuộc về người nào.
Nếu một tỷ đồng là khoản lợi ích độc lập mà T. thực tế có được sau khi tài sản của các bị hại đã bị chiếm đoạt và phân chia, thì việc T. lấy tài sản hợp pháp của mình để bồi thường 120 triệu đồng cho C. không đương nhiên làm giảm khoản lợi bất chính đã tồn tại, bởi nghĩa vụ trả lại tài sản cho bị hại và biện pháp tịch thu lợi ích phạm tội là hai hậu quả khác nhau; ngược lại, nếu 120 triệu đồng được khấu trừ vì bản án coi đó là một phần của chính một tỷ đồng, thì một tỷ đồng không còn là lợi ích độc lập mà chứa trong nó tài sản của bị hại, từ đó bắt buộc phải áp dụng cơ chế hoàn trả theo khoản 2 Điều 47 thay vì gộp chung để truy thu. Bản án không thể đồng thời hưởng lợi từ cả hai cách định danh, tức vừa gọi một tỷ đồng là thu lợi bất chính để buộc nộp, vừa xem đó là tài sản của các bị hại để giữ chờ hoàn trả.
Việc người bị hại C. miễn yêu cầu đối với phần còn lại cũng cần được nhìn nhận đúng phạm vi, bởi sự miễn yêu cầu dân sự của một bị hại không xóa bỏ trách nhiệm hình sự đã phát sinh, nhưng có ý nghĩa xác định rằng quan hệ hoàn trả đối với người đã được chứng minh trong vụ án đã được giải quyết theo thỏa thuận hoặc ý chí của họ. Không thể lấy phần nghĩa vụ mà C. đã miễn để suy chuyển thành một khoản tiền thuộc về những bị hại khác chưa xác định, bởi mỗi quyền yêu cầu bồi thường gắn với một chủ thể, một hành vi và một thiệt hại cụ thể; việc một người từ bỏ quyền dân sự không tạo ra quyền tương ứng cho những người chưa được chứng minh tồn tại trong vụ án.
Trong tình huống nghiên cứu, 120 triệu đồng là khoản T. đã trả trực tiếp cho bị hại C., người đã được xác định trong vụ án và đã làm đơn miễn phần nghĩa vụ còn lại; 500 triệu đồng là khoản T. tự nguyện nộp trước xét xử để khắc phục hậu quả; 380 triệu đồng là khoản bản án tiếp tục truy thu để tổng cộng đủ một tỷ đồng. Phép tính này đúng về số học nhưng bộc lộ mâu thuẫn pháp lý, bởi khoản 120 triệu đồng thuộc quan hệ hoàn trả hoặc bồi thường cho bị hại đã xác định, trong khi một tỷ đồng được định danh là “thu lợi bất chính”. Nếu một tỷ đồng là khoản lợi ích độc lập của T. sau khi đã tách khỏi tài sản của bị hại, việc trừ 120 triệu đồng bồi thường vào khoản lợi ích ấy không có căn cứ hiển nhiên; ngược lại, nếu 120 triệu đồng là một phần của chính một tỷ đồng, thì một tỷ đồng không thể được coi toàn bộ là khoản lợi ích độc lập để tịch thu hoặc truy thu.
Việc cộng chung hai khoản chỉ có thể được giải thích nếu Tòa án thực chất coi một tỷ đồng là tổng tài sản của nhiều bị hại, trong đó 120 triệu đồng đã được trả cho một người và phần còn lại cần giữ để trả cho những người khác. Tuy nhiên, cách giải thích này lại mâu thuẫn với chính việc gọi một tỷ đồng là “thu lợi bất chính”, đồng thời đòi hỏi chứng minh những hành vi chiếm đoạt, giao dịch và thiệt hại của các bị hại khác, điều mà bản án thừa nhận chưa xác định được. Một phép tính không thể tự tạo ra căn cứ pháp lý cho các khoản cấu thành nó; trước khi trừ 620 triệu đồng và xác định còn thiếu 380 triệu đồng, cơ quan xét xử phải chứng minh nghĩa vụ gốc một tỷ đồng bằng chứng cứ độc lập.
5.3. Nguy cơ xử lý trùng một giá trị tài sản
Khi tài sản bị chiếm đoạt và khoản thu lợi bất chính không được tách biệt, nguy cơ xử lý trùng cùng một giá trị xuất hiện, bởi bị cáo có thể vừa phải bồi thường cho bị hại, vừa bị truy thu chính khoản tiền đã dùng để bồi thường hoặc khoản lợi ích được tính từ cùng tài sản đó. Pháp luật không cấm đồng thời buộc bồi thường và tịch thu nếu tồn tại hai lợi ích hoặc hai nguồn tài sản độc lập, nhưng bản án phải chứng minh sự độc lập ấy; nếu không, việc áp dụng đồng thời Điều 47 và Điều 48 sẽ dẫn đến tước tài sản nhiều hơn hậu quả thực tế của hành vi phạm tội.
- “TRUY THU TRƯỚC, TÌM BỊ HẠI SAU” VÀ GIỚI HẠN CỦA THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 6.1. Xác định bị hại và tài sản bị chiếm đoạt là nhiệm vụ của tố tụng hình sự
Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc xác định bị hại không phải thủ tục phụ có thể chuyển sang sau xét xử, bởi người bị hại là chủ thể gắn với tài sản bị xâm phạm, còn khoản tài sản đã giao do nhầm tưởng là dữ kiện cấu thành hành vi chiếm đoạt. Trong một số trường hợp đặc biệt, cơ quan tố tụng có thể chưa biết đầy đủ nhân thân hoặc địa chỉ của từng người nhưng vẫn chứng minh được các giao dịch phạm tội cụ thể bằng sao kê, dữ liệu đơn hàng, chứng từ chuyển phát, tài liệu điện tử và các nguồn chứng cứ khác; tuy nhiên, ngay cả khi đó, khoản tiền, thời điểm, phương thức giao tài sản và mối liên hệ với thủ đoạn gian dối vẫn phải được chứng minh trước khi bản án tuyên trách nhiệm tài sản.
Trong tình huống nghiên cứu, lập luận “còn nhiều bị hại chưa tìm thấy” không chỉ phản ánh việc thiếu địa chỉ của người đã được xác định, mà phản ánh việc chưa xác định được ai đã bị lừa, họ đã giao bao nhiêu tiền, giao dịch nào tạo ra phần tiền ngoài 238,5 triệu đồng và khoản nào thực tế chuyển thành lợi ích của T. Đây là khoảng trống thuộc nghĩa vụ điều tra, truy tố và xét xử; nó không thể được chuyển thành một khoản tiền chờ xử lý tại cơ quan thi hành án dân sự.
6.2. Cơ chế gửi giữ tiền thi hành án không phải cơ chế điều tra bổ sung
Pháp luật thi hành án dân sự có thể quy định việc gửi giữ khoản tiền đã có người được thi hành án nhưng người đó chưa đến nhận, chưa xác định được địa chỉ hoặc vì lý do khách quan chưa thể giao tiền, song cơ chế này chỉ vận hành sau khi bản án đã xác định rõ nghĩa vụ phải thi hành, chủ thể có quyền hoặc ít nhất căn cứ phát sinh quyền nhận tiền. Tình huống nghiên cứu khác về bản chất, bởi những người được cho là bị hại chưa được xác định ngay cả về tư cách tố tụng, hành vi bị xâm hại, số tiền đã giao và quyền đối với khoản tiền đang giữ; khi đó, cơ quan thi hành án không còn thực hiện một nghĩa vụ đã được phán quyết mà bị đặt vào vị trí chờ đợi kết quả của một quá trình xác minh chưa hoàn thành.
Cơ quan thi hành án dân sự không có chức năng thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm, xác định một người đã bị lừa bằng thủ đoạn nào, đánh giá họ có tự nguyện giao tài sản do nhầm tưởng hay không, xác định khoản tiền nào thuộc trách nhiệm của từng bị cáo hoặc mở rộng phạm vi người bị hại của một vụ án đã xét xử. Nếu sau khi bản án có hiệu lực xuất hiện người tự nhận là bị hại, việc kiểm tra tư cách của họ, quan hệ với hành vi phạm tội và mức thiệt hại không thể được giải quyết chỉ bằng thủ tục nhận tiền tại cơ quan thi hành án, bởi đó là những vấn đề thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử; giao tiền cho thi hành án giữ vì thế không khắc phục được thiếu sót của quá trình chứng minh mà chỉ trì hoãn việc phải trả lời khoản tiền thuộc loại tài sản nào.
Việc quy định rằng hết một thời hạn mà không tìm thấy người nhận thì sung công càng làm rõ sự bất định về bản chất pháp lý, bởi tài sản không thể chuyển từ tiền của bị hại sang tài sản của Nhà nước chỉ vì chưa có người đến nhận nếu ngay từ đầu chưa chứng minh được nó là tiền do phạm tội mà có. Nếu khoản tiền thực sự là thu lợi bất chính, căn cứ tịch thu phải được xác lập ngay trong bản án trên cơ sở chứng cứ; nếu là tài sản của bị hại, bản án phải chỉ rõ quyền hoàn trả; còn nếu chưa đủ căn cứ xác định theo cả hai hướng, quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo không thể bị treo trong một trạng thái chờ đợi rồi tự động chấm dứt khi thời hạn trôi qua.
Pháp luật thi hành án dân sự có cơ chế gửi giữ tiền khi người được thi hành án đã được xác định nhưng chưa đến nhận hoặc chưa xác định được địa chỉ, sau một thời hạn nhất định mới xử lý khoản tiền không có người nhận theo quy định. Tiền đề của cơ chế này là bản án đã xác định một nghĩa vụ hợp pháp, một khoản tiền phải trả và tư cách của người được thi hành án, chỉ còn trở ngại kỹ thuật trong việc chi trả. Cơ chế ấy không cho phép cơ quan thi hành án tiếp tục điều tra xem ai có thể là bị hại, họ có thực sự bị lừa hay không, số tiền họ giao là bao nhiêu và họ có quyền nhận phần nào trong quỹ đang giữ.
Khi Tòa án giao một khoản tiền chưa được truy nguyên cho cơ quan thi hành án để chờ tìm bị hại, cơ quan thi hành án bị đặt vào vị trí phải hoàn thiện những căn cứ mà bản án chưa xác định, trong khi cơ quan này không có thẩm quyền điều tra tội phạm, xác lập tư cách bị hại hoặc mở rộng phạm vi trách nhiệm của người đã bị kết án. Việc chuyển địa điểm giữ tiền từ Tòa án sang thi hành án không làm thay đổi bản chất của thiếu sót chứng minh; một khoản tiền không có căn cứ tước tài sản tại thời điểm tuyên án vẫn không trở thành hợp pháp chỉ vì được giữ trong tài khoản của cơ quan nhà nước.
6.3. Mâu thuẫn của phương án “không có người nhận thì sung công”
Nếu khoản tiền là tài sản của các bị hại, quyền của họ phát sinh từ hành vi chiếm đoạt và không biến mất chỉ vì cơ quan nhà nước không tìm thấy họ trong một thời hạn; nếu khoản tiền là thu lợi bất chính của bị cáo, căn cứ xử lý phải là tịch thu theo Điều 47 sau khi nguồn gốc phạm tội được chứng minh, chứ không phải đợi xem có ai đến nhận; nếu khoản tiền là tài sản hợp pháp của bị cáo tự nguyện nộp, việc không xuất hiện người nhận không tự tạo ra quyền sở hữu của Nhà nước. Việc một khoản tiền lần lượt được coi là thu lợi bất chính, tài sản tiềm năng của các bị hại chưa xác định và cuối cùng là tài sản sung công cho thấy bản chất pháp lý của nó không được quyết định bằng chứng cứ, mà bị để phụ thuộc vào một sự kiện tương lai không liên quan đến nguồn gốc ban đầu của tiền.
- HỆ QUẢ ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ, LƯỢNG HÌNH VÀ QUYỀN SỞ HỮU CỦA BỊ CÁO 7.1. Không được dùng một tỷ đồng để thay đổi phạm vi trách nhiệm theo Điều 174
Cáo trạng xác định T. chịu trách nhiệm hình sự đối với 238,5 triệu đồng của bị hại C. và áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, trong khi một tỷ đồng chỉ được ghi là khoản hưởng lợi. Vì vậy, một tỷ đồng không thể được dùng như giá trị tài sản chiếm đoạt để mở rộng phạm vi trách nhiệm hình sự mà không đồng thời đặt lại toàn bộ căn cứ định khung. Nếu cơ quan tố tụng thực sự coi một tỷ đồng là tài sản chiếm đoạt nằm trong phạm vi đồng phạm của T., thì về mặt định lượng vụ án đã vượt ngưỡng khoản 3; việc vẫn giữ khoản 3 cho thấy con số một tỷ đồng không được coi là hậu quả cấu thành đã được chứng minh, nhưng sau đó lại được sử dụng để tước tài sản như thể nguồn gốc phạm tội đã rõ ràng. 7.2. Khoản hưởng lợi chưa chứng minh không thể làm nặng vai trò và hình phạt
Một khoản tiền được gọi là hưởng lợi lớn có khả năng tác động mạnh đến cách Hội đồng xét xử nhìn nhận vai trò của bị cáo, bởi nó dễ tạo ra ấn tượng rằng người nhận nhiều tiền tất nhiên phải là người tổ chức, người cầm đầu hoặc người có mức độ nguy hiểm cao hơn; tuy nhiên, ấn tượng ấy không thể thay thế việc cá thể hóa theo Điều 58 Bộ luật Hình sự. Vai trò tổ chức phải được chứng minh bằng hành vi chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, xây dựng kế hoạch, phân công, điều hành và kiểm soát việc thực hiện tội phạm, chứ không thể được suy ra chỉ từ một con số hưởng lợi chưa kiểm chứng; ngược lại, không thể dùng nhận định bị cáo là người tổ chức để giải thích vì sao con số hưởng lợi lớn là hợp lý, bởi đó tiếp tục là một vòng suy luận tự xác nhận.
Điều 50 Bộ luật Hình sự yêu cầu quyết định hình phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng, trong khi Điều 52 quy định danh mục tình tiết tăng nặng có tính giới hạn. Khoản thu lợi bất chính không phải tình tiết tăng nặng được quy định riêng cho tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên nếu con số một tỷ đồng chưa được chứng minh mà vẫn được dùng để làm nặng nhận định về vai trò hoặc hình phạt, bản án đã đưa vào quá trình lượng hình một tình tiết bất lợi không có nền tảng chứng cứ và không được luật xác định là tình tiết tăng nặng; điều này đặc biệt nghiêm trọng khi mức hình phạt tù và nghĩa vụ tài sản cùng được xây dựng trên cùng một con số, khiến một sai số chứng minh tạo ra hậu quả kép đối với cả tự do và tài sản của bị cáo.
Số tiền thực tế một bị cáo được hưởng có thể là dữ kiện để đánh giá động cơ, vị trí và mức độ tham gia, nhưng chỉ khi được chứng minh độc lập; nó không phải tình tiết tăng nặng tự động và không thể thay thế việc cá thể hóa vai trò theo Điều 17, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Nếu một tỷ đồng chủ yếu dựa trên lời khai ước lượng và giả thuyết về các bị hại chưa xác định, việc dùng con số ấy để củng cố nhận định bị cáo là người cầm đầu, có lợi ích lớn hoặc cần chịu hình phạt nghiêm khắc sẽ tạo thành vòng suy luận kép: vai trò được chứng minh bằng khoản hưởng lợi, còn khoản hưởng lợi lại được suy ra từ vị trí quản lý và quy mô hoạt động.
7.3. Truy thu 380 triệu đồng cần một căn cứ chứng minh độc lập
Phần truy thu 380 triệu đồng không phải một hậu quả phụ có thể được xác lập bằng cân nhắc công bằng chung, mà là một quyết định tước quyền sở hữu, vì vậy phải dựa trên một căn cứ pháp luật và một chuỗi chứng cứ đầy đủ. Nếu nghĩa vụ gốc một tỷ đồng chưa được chứng minh, 380 triệu đồng chỉ là số dư của một phép toán dựa trên giả định; nếu khoản 120 triệu đồng và 500 triệu đồng có bản chất khác nhau, việc cộng chúng để xác định số còn thiếu không thể tự biến chúng thành các khoản thanh toán cho cùng một nghĩa vụ; nếu những bị hại khác chưa được xác định, không có cơ sở để coi 380 triệu đồng là phần tài sản thuộc về họ.
- TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI KHOẢN THU LỢI BẤT CHÍNH TRONG TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
Một tiêu chuẩn chứng minh thích hợp đối với khoản thu lợi bất chính trong tội xâm phạm sở hữu phải bắt đầu từ hành vi phạm tội đã được chứng minh, thay vì bắt đầu từ tài sản đang có trong tay bị cáo. Trước hết, cơ quan buộc tội phải lập được tập hợp các giao dịch chiếm đoạt, trong đó mỗi giao dịch có dữ liệu về người giao tài sản hoặc dấu vết đủ nhận diện giao dịch, nội dung gian dối, thời điểm giao tiền và giá trị tài sản; tiếp đó phải truy nguyên dòng tiền từ giao dịch đến doanh nghiệp hoặc cá nhân, xác định các bước phân chia và người kiểm soát cuối cùng, rồi mới tính phần lợi ích thực tế sau khi loại trừ dòng tiền luân chuyển, khoản vay, vốn góp, hoàn ứng và chi phí không tạo ra lợi ích. Trình tự ấy bảo đảm rằng khoản thu lợi là kết quả của chứng minh về nguồn gốc, chứ không phải giả thuyết dùng để suy ngược ra nguồn gốc.
Ở cấp độ chứng cứ, mỗi khoản thu lợi cần được kiểm tra theo bốn tiêu chí gồm tính hợp pháp của nguồn chứng cứ, tính xác thực của dữ liệu, tính liên quan giữa khoản tiền với hành vi phạm tội và tính đầy đủ của chuỗi truy nguyên. Một lời khai của bị cáo có thể là điểm khởi đầu để xác minh, nhưng chỉ trở thành căn cứ kết luận khi phù hợp với sao kê, chứng từ, dữ liệu kế toán hoặc dấu vết tài sản; một bảng tổng hợp do cơ quan điều tra lập có thể hỗ trợ trình bày, nhưng không thay thế các chứng từ gốc; một khoản tiền đi qua tài khoản bị cáo có thể là dữ kiện liên quan, nhưng chưa phải lợi ích nếu chưa loại trừ nghĩa vụ hoàn trả, khoản nhận hộ hoặc giao dịch hợp pháp. Khi một trong các tiêu chí chưa được đáp ứng, phần nghi ngờ phải được loại khỏi phép tính bất lợi theo Điều 13 và Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với những vụ án có người bị hại chưa liên hệ được, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể chứng minh tài sản chiếm đoạt nếu có tập hợp dữ liệu khách quan đủ mạnh về giao dịch, nhưng phải mô tả rõ số lượng giao dịch, giá trị từng khoản, chủ thể chuyển tiền hoặc mã định danh, nội dung liên hệ gian dối và đường đi của tiền. Không thể thay toàn bộ dữ liệu ấy bằng một nhận định chung rằng còn nhiều bị hại chưa xác định; cụm từ này chỉ phản ánh một hướng điều tra chưa hoàn tất, không phải một sự kiện đã được chứng minh để làm căn cứ truy thu.
Để tránh nhầm lẫn giữa tài sản bị chiếm đoạt và khoản thu lợi bất chính, cơ quan tố tụng cần thực hiện một trình tự kiểm định có khả năng truy nguyên. Trước hết, phải xác định từng hành vi chiếm đoạt hoặc từng nhóm giao dịch phạm tội bằng chứng cứ về người giao tiền, thời điểm, phương thức gian dối, quyết định giao tài sản và giá trị tài sản đã dịch chuyển. Tiếp theo, phải xác định đường đi của tiền từ bị hại hoặc giao dịch phạm tội đến tài khoản, quỹ hoặc cá nhân, đồng thời loại trừ các khoản luân chuyển nội bộ, hoàn vốn, trả nợ, chi phí và nguồn hợp pháp. Sau đó, phải cá thể hóa lợi ích thực tế của từng bị cáo bằng chứng từ nhận tiền hoặc dữ liệu tài chính phù hợp, thay vì suy từ doanh thu hoặc tỷ lệ ước lượng. Cuối cùng, phải định danh khoản tiền theo Điều 47 và Điều 48 trước khi lựa chọn biện pháp hoàn trả, bồi thường, tịch thu hoặc truy thu.
Trong bản án, chuỗi lập luận này cần được thể hiện minh bạch bằng việc chỉ rõ chứng cứ nào chứng minh từng khoản, cách Tòa án xử lý lời khai mâu thuẫn, căn cứ xác định người hưởng lợi, lý do loại trừ các nguồn tiền hợp pháp và lý do không coi khoản tiền là tài sản của bị hại cần hoàn trả. Khi một mắt xích không được chứng minh, phần giá trị tương ứng không được giữ lại chỉ vì phù hợp với nhận định tổng quát rằng doanh nghiệp đã hoạt động lừa đảo. Tính chất phạm tội của mô hình không làm cho mọi dòng tiền trong mô hình trở thành tiền phạm tội; ngược lại, sự phức tạp của dòng tiền làm tăng, chứ không làm giảm, nghĩa vụ phân loại và kiểm chứng.
- KẾT LUẬN
Tình huống nghiên cứu cho thấy sai lầm không nằm ở một thuật ngữ đơn lẻ mà nằm trong toàn bộ chuỗi tư duy pháp lý, theo đó từ lời khai ước lượng về khoản lợi ích, cơ quan tố tụng suy ra sự tồn tại của các bị hại chưa xác định, từ sự tồn tại giả định ấy lại kết luận khoản tiền có nguồn gốc phạm tội, sau đó dùng khoản bồi thường cho bị hại đã biết và khoản tự nguyện nộp khắc phục để khấu trừ vào một nghĩa vụ truy thu chung, rồi giao số tiền cho cơ quan thi hành án giữ để chờ những dữ kiện mà bản án chưa chứng minh. Chuỗi tư duy này đảo ngược nghĩa vụ chứng minh, biến sự thiếu hụt chứng cứ thành lý do tước tài sản và làm cho tài sản bị chiếm đoạt, khoản thu lợi bất chính, trách nhiệm bồi thường và tịch thu sung ngân sách không còn ranh giới rõ ràng.
Đối với bị cáo T., phần truy thu thêm 380 triệu đồng chỉ có thể hợp pháp nếu nghĩa vụ gốc một tỷ đồng đã được chứng minh bằng các tài liệu độc lập về nguồn tiền, giao dịch, thời điểm nhận và lợi ích thực tế, đồng thời bản án giải thích được vì sao 120 triệu đồng bồi thường cho C. và 500 triệu đồng nộp khắc phục cùng thuộc một nghĩa vụ duy nhất. Nếu một tỷ đồng chỉ xuất phát từ lời khai của T. và giả thuyết về các bị hại chưa xác định, thì 380 triệu đồng chỉ là số dư của một phép tính số học dựa trên một tiền đề pháp lý chưa được chứng minh; trong trường hợp đó, nguyên tắc suy đoán vô tội, nghĩa vụ chứng minh và quyền sở hữu đòi hỏi phải loại bỏ phần truy thu, thay vì giữ tiền để chờ căn cứ xuất hiện sau khi bản án đã tuyên.
Giới hạn căn bản của quyền lực hình sự là Nhà nước chỉ được kết tội, định lượng hậu quả và tước tài sản trên cơ sở những sự kiện đã được chứng minh theo đúng trình tự, chứ không được dùng một kết luận tài chính chưa được kiểm chứng để lấp đầy khoảng trống của hành vi phạm tội. Tài sản bị chiếm đoạt phải được xác định từ người bị hại và giao dịch chiếm đoạt; khoản thu lợi bất chính phải được xác định từ dòng tiền đã truy nguyên và lợi ích thực tế; trách nhiệm bồi thường phải gắn với thiệt hại của chủ thể cụ thể; còn tịch thu phải có căn cứ pháp luật và chứng cứ độc lập. Khi các ranh giới này được tôn trọng, việc xử lý tài sản mới vừa bảo vệ quyền của bị hại, vừa không biến người bị kết án thành chủ thể có thể bị tước mọi khoản tài sản chỉ vì cơ quan tố tụng chưa giải thích được nguồn gốc của một con số.
Sự nhầm lẫn giữa “tài sản bị chiếm đoạt” và “khoản thu lợi bất chính” không phải là một sai sót về thuật ngữ, mà là sự nhầm lẫn có khả năng làm thay đổi toàn bộ cấu trúc trách nhiệm trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tài sản bị chiếm đoạt phải được xác định từ hành vi gian dối, sự giao tài sản do nhầm tưởng, người bị thiệt hại và giá trị tài sản cụ thể; khoản thu lợi bất chính chỉ có thể được xác định sau khi nguồn tiền và lợi ích thực tế của từng người đã được truy nguyên. Khi hai đại lượng bị nhập làm một, cơ quan tố tụng có thể dùng một con số chưa được kiểm chứng để suy đoán thêm bị hại, mở rộng hậu quả, làm nặng vai trò, truy thu tài sản và chuyển phần chưa chứng minh sang giai đoạn thi hành án.
Trong tình huống được nghiên cứu, việc xác định T. chịu trách nhiệm hình sự đối với 238,5 triệu đồng của bị hại C. nhưng đồng thời hưởng lợi một tỷ đồng, rồi cộng 120 triệu đồng đã bồi thường với 500 triệu đồng đã nộp để truy thu thêm 380 triệu đồng, cho thấy một tỷ đồng không được giữ trong một tư cách pháp lý nhất quán. Nếu là tài sản của các bị hại, các hành vi chiếm đoạt và khoản thiệt hại phải được chứng minh; nếu là khoản thu lợi bất chính, lợi ích thực tế của T. phải được xác định bằng chứng cứ độc lập; nếu chưa xác định được cả hai, việc giữ tiền chờ những bị hại có thể xuất hiện trong tương lai là sự đảo ngược nghĩa vụ chứng minh. Pháp luật hình sự cho phép Nhà nước tước tự do và tài sản của một con người, nhưng chỉ trong giới hạn của những gì đã được chứng minh theo trình tự luật định. Lời khai ước lượng của bị cáo không thể tự tạo ra một tỷ đồng thu lợi bất chính; việc tự nguyện nộp tiền không thể thay thế chứng cứ; sự vắng mặt của bị hại không thể trở thành bằng chứng rằng họ tồn tại; và cơ quan thi hành án dân sự không thể hoàn thiện những căn cứ còn thiếu của bản án. Khi nghĩa vụ chứng minh không được đáp ứng, nguyên tắc suy đoán vô tội và bảo hộ quyền sở hữu đòi hỏi phần nghi ngờ phải được giải quyết theo hướng có lợi cho bị cáo, chứ không được chuyển thành một khoản truy thu để chờ căn cứ xuất hiện sau khi bản án đã tuyên.
CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Quốc hội, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung; các điều 17, 47, 48, 50, 52, 58 và 174, Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật.
- Quốc hội, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung; các điều 13, 15, 85, 98, 106 và 108, Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật.
- Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 31 và Điều 32, văn bản hợp nhất năm 2025.
- Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, “Một số ý kiến về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự”, đăng ngày 16/9/2024.
- Cáo trạng số 62/CT-VKSTHA-P2 ngày 20/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và tài liệu, diễn biến xét xử sơ thẩm được sử dụng làm tình huống nghiên cứu. [1] Quốc hội, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, các Điều 17, 47, 48, 50, 58 và 174. [2] Quốc hội, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, các Điều 13, 15, 85, 98, 106 và 108. [3] Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Cáo trạng số 62/CT-VKSTHA-P2 ngày 20/4/2026, phần kết luận về nhóm bị can do N.D.T. và H.T.T.H. bị xác định cầm đầu, điều hành; trong đó xác định N.D.T. hưởng lợi 1.000.000.000 đồng và chịu trách nhiệm hình sự đối với 238.500.000 đồng của bị hại L.N.C. [4] Trần Thăng Long, “Một số ý kiến về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, ngày 16/9/2024. [5] “Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lừa dối khách hàng và tội buôn bán hàng giả theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, ngày 18/10/2024. [6] Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung; các quy định hướng dẫn về quản lý, chi trả và xử lý khoản tiền thi hành án chưa có người nhận chỉ được đặt trên tiền đề nghĩa vụ và người được thi hành án đã được bản án, quyết định xác định. [7] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 31 và Điều 32. [8] Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, khoản 2 Điều 14; Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, Bình luận chung số 32 (2007).

